Tùy theo trường hợp, tùy theo các căn cảm nhận, tùy theo phương diện, tùy theo chủ đề… mà Đức Phật đã từng chỉ dạy hai, ba, năm, sáu, mười tám, ba mươi sáu hay một trăm lẻ tám loại cảm thọ khác nhau. Do vậy, trong kinh này Phật đã liệt kê ra những loại cảm thọ lạc và khổ khác nhau mà chúng sinh khác nhau có thể cảm nhận.
Giáo chủ Nigaṇṭha Nātaputta xúi giục vương tử Abhaya đến luận chiến với Đức Phật bằng cách đặt câu hỏi “hai móc”. Nhưng khi hoàng tử gặp Phật để đặt câu hỏi, Thế Tôn đã khéo léo trả lời và đã thu phục Abhaya quy ngưỡng Ngài. Đức Thế Tôn phân tích cho Abhaya sáu nội dung lời nói mà Thế Tôn có thái độ ứng xử khác nhau.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya Haliddavasana là tên một thị trấn của dân chúng Koliya. Rồi Punna Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến Punna Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, nói lời hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên lời hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên, ngồi chò hỏ như con chó.
Gia chủ Upāli giàu có và uy thế, ông là một nhà tài trợ lớn của những Nigaṇṭha, ông đã đề nghị đến gặp Phật để bác bỏ giáo thuyết của Phật theo sự xúi giục của giáo chủ Nātaputta. Nhưng đến khi gặp Phật và nghe Phật thuyết giảng, Upāli đã quy y Phật. Chuyện kinh gắn liền với sự kiện giáo chủ giáo phái Nigaṇṭha đã qua đời không lâu sau khi ông gặp gia chủ Upāli và biết Upāli đã thực sự trở thành đệ tử Đức Phật.
Đức Phật đã giảng cho Jīvaka về việc ăn mặn và thái độ của các vị Tỷ-kheo để thọ thực các món ăn một cách hợp pháp, không lỗi lầm. Đây là kinh nói về ba trường hợp thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết và thường được gọi là giới luật về Tam Tịnh Nhục.
Gia chủ Potaliya đã tự cao tuyên bố rằng ông đã từ bỏ mọi nghiệp vụ, tục sự ràng buộc trong đời sống thế tục. Nhưng Đức Phật đã chỉ dạy cho ông như thế nào mới là đoạn tận các nghiệp vụ, tục sự trong giới luật của bậc Thánh. Và ông đã học được điều đó một cách rốt ráo. Đặc biệt, bài kinh đã đưa ra một loạt những ví dụ rất hay về sự nguy hiểm của các dục.
Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử, thành tựu giới hạnh, hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, thành tựu bảy diệu pháp, hiện tại lạc trú bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức.
Một thời Tôn giả Ānanda trú ở Vesālī (Tỳ-xá-ly), tại Beluvagāmaka (ấp Trúc Lâm). Lúc bấy giờ gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka đến tại Pataliputta (thành Ba-la-lị-phất) có công việc. Rồi gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka (Bát thành) đi đến Kukkuṭarama (Kê Viên), đến một Tỷ-kheo, đảnh lễ vị này, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka thưa với Tỷ-kheo ấy: Bạch Tôn giả, Tôn giả Ānanda nay an trú ở đâu? Chúng con muốn gặp Tôn giả Ānanda.